Sách ngữ pháp tiếng việt

     

Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Giáo sư Nguyễn Hữu Quỳnh, Giám đốc Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, được một số tờ báo giới thiệu như là "quyển ngữ pháp chuẩn" đầu tiên, dùng để giảng dạy trong nhà trường và thống nhất trong xã hội. Thế nhưng, theo ý kiến của nhóm tác giả Hoàng Dũng, Cao Xuân Hạo, Bùi Mạnh Hùng đăng trên báo Thanh Niên, khi đọc kỹ, cuốn sách còn nhiều điều cần xem xét.

Bạn đang xem: Sách ngữ pháp tiếng việt

Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của GS Nguyễn Hữu Quỳnh.

Trước hết, ngay cách diễn đạt của cuốn sách đã thể hiện nhiều điều bất cập. Ở phần mục lục, nhiều chương mục có kết cấu lộn xộn. Chẳng hạn, ở phần III, trong chương 3 chuyên bàn về từ ghép và phân loại từ ghép, lại có các tiểu mục "Thành ngữ và thuật ngữ", "Từ đa nghĩa, từ đồng âm, từ đồng nghĩa, trái nghĩa"; và nếu đọc chính văn ta còn bắt gặp tiểu mục "Từ Hán Việt và từ vay mượn khác" (bị bỏ sót trong mục lục).

Song chính ngữ pháp mà tác giả dùng để viết sách mới đập vào mắt người đọc mạnh nhất: câu văn không mấy dễ đọc, thậm chí có những câu sai ngữ pháp hoặc trái hẳn với cái ý mà tác giả định diễn đạt. Ví dụ: "Một ký hiệu chỉ được biểu hiện bằng một âm vị" (trang 34). Thực ra, chữ viết là thứ ký hiệu được dùng để biểu hiện âm vị, chứ không phải "được biểu hiện bằng" âm vị. Hoặc tác giả không phân biệt được từ với từ vựng, dẫn đến việc dùng lẫn lộn: “Từ vựng tiếng Việt phần lớn cấu tạo từ một hình vị và hai hình vị <...>" (trang 46), “Phó từ là những từ chuyên đi kèm với các từ vựng khác để bổ sung ý nghĩa cho từ đó” (trang 157).

Những danh ngữ như tính ác không thể làm định ngữ cho danh từ, mà phải được đảo trật tự lại: Không thể nói u tính ác mà phải nói u ác tính. Nhưng tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh dùng đến khoảng hai chục lần (các trang 208, 209, 220, 221, 222, 228, 229, 230, 231, 232, 235) cụm từ đơn vị tính vị ngữ và kết cấu tính vị ngữ (trong khi chỉ có thể nói đơn vị có tính vị ngữ hay đơn vị vị ngữ tính và kết cấu vị ngữ tính).

Ngoài ra, trong sách còn rất nhiều câu bất chấp quy tắc logic và ngữ pháp tối thiểu như: “Từ lịch sử phát triển kho từ vựng tiếng Việt, ta biết được các ngôn ngữ gốc Ấn - Âu” (trang 35), “Từ láy là phương thức cấu tạo từ độc đáo của tiếng Việt” (trang 109) (chỉ có láy chứ không phải từ láy, mới là phương thức cấu tạo từ), “Từ đa nghĩa chủ yếu là từ đơn và từ dùng cấu tạo từ <...>” (trang 16), “Từ đồng âm chủ yếu là các từ đơn tiết và các thành tố cấu tạo từ, cụm từ <...>” (trang 117).

Xem thêm: Công Thức Hóa Học Lớp 8 Bài 18: Mol, Các Công Thức Hóa Học Lớp 8

Không chỉ có vậy, cuốn sách còn bộc lộ nhiều vấn đề về ngôn ngữ học. Người đọc cuốn sách Ngữ pháp tiếng Việt giật mình trước một số định nghĩa của tác giả, các khái niệm ngôn ngữ học phổ thông và vận dụng nó vào việc miêu tả ngữ pháp tiếng Việt.

Khi viết: “Từ ghép là những đơn vị có tính vững chắc về cấu tạo (cụm từ cố định) và có tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa biểu thị một khái niệm duy nhất và hoạt động trong câu với chức năng cú pháp của một từ” (trang 95), “Danh từ riêng tiếng Việt thường dùng dưới dạng cụm từ” (trang 131), tác giả đã không phân biệt được từ với cụm từ, danh từ riêng với tên riêng.

Những trang viết về từ loại tiếng Việt (trang 129-172) chiếm kỷ lục về sai lầm. Tác giả viết: “Danh từ gồm có, trước hết, các từ định danh tức là những từ chỉ người, chỉ động vật, thực vật và đồ vật <...>. Thứ hai là danh từ gồm có các từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên và xã hội <...>. Thứ ba là danh từ gồm có các từ có ý nghĩa trừu tượng <...>" (trang 129-130). Người đọc không thể hiểu tại sao chỉ có nhóm thứ nhất mới được coi là từ định danh.

Bàn đến phó từ, tác giả viết: “Phó từ biểu thị ý nghĩa yêu cầu sai khiến, khích lệ thường đặt trước động từ: hãy, đi, đừng, chớ...” (trang 160). Vậy thì xin tác giả cho một ví dụ có “phó từ” đi đặt trước động từ!

Phần liên quan đến nghĩa từ cũng mắc nhiều lỗi. Chẳng hạn, ông viết: “Vì hư từ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp chỉ nguyên nhân: Trên vì nước, dưới vì nhà” (trang 44), trong khi người Việt Nam ai cũng hiểu ở đây chỉ đối tượng phục vụ chứ không hề chỉ nguyên nhân. Ở một chỗ khác, tác giả cho rằng nhỉ, ư là từ đệm biểu thị thái độ ngạc nhiên, cơ, kia, nhé, biểu thị thái độ nũng nịu (trang 1680). Khó có thể cho nhỉ biểu thị thái độ ngạc nhiên, kia, nhé biểu thị thái độ nũng nịu được. Ngay những ví dụ mà tác giả nêu (trang 168-169) đã cho thấy “quy tắc” dùng các từ này không đúng như vậy.


Chuyên mục: